Công việc của nhà văn là phát hiện cái đẹp chính ở chỗ mà không ai ngờ tới...
Có lẽ không gì định nghĩa được cái đẹp rõ hơn văn chương và cũng không ai có thể nhận ra được cái đẹp thẩm mỹ như những nhà văn. Đặc biệt là những nhà văn có quan điểm văn chương gắn với hiện thực cuộc sống và con người. Bởi con người luôn ẩn chứa một hạt ngọc tiềm ẩn sáng long lanh giữa hoàn cảnh khắt nghiệt của cuộc đời, giữa những cái chông chênh của số phận khiến người ta quên đi cái đẹp vẫn tồn tại, thì chính sự nhạy cảm, sống trong chính nhân vật của của mình của những nhà văn như Nam Cao đã khẳng định: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có" (Đời thừa). Mà chúng ta cũng từng thấy quan niệm sáng tác ấy ở nơi Thạch Lam khi ông cho rằng: "Công việc của nhà văn là phát hiện cái Đẹp chính ở chỗ mà không ai ngờ tới, tìm cái Đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, cho người đọc một bài học trong nhìn và thưởng thức" (Tập tiểu luận phê bình Theo dòng).
Ta đang tìm đâu đó hơi thở từ những tác phẩm Nam Cao trong quan niệm ấy của Thạch Lam. Vốn dĩ là một nhà văn thuộc lĩnh vực văn học hiện thực phê phán, Nam Cao được sống trong một thời kì mà xã hội hỗn loạn, đời sống nhân dân lâm vào khổ cực khi cách mạng chưa đến, những năm trước cách mạng tháng tám (1945), Nam Cao luôn hướng ngồi bút của mình về người nông dân và người tri thức nghèo. Dường như ông đã cảm nhận được một điều gì đấy cần khai phá ở những con người "thấp cổ bé họng" như Chí Phèo và Lão Hạc, những người bị thui chột ước mơ của Hộ (Đời thừa). Họ đồng thời là những người có tính cách hiền lành nhân hậu nhưng lại bị cái xã hội vùi dập tất cả, làm cho con người "bần cùng hóa", đánh mất đi nhiều thứ tìm ẩn trong tâm hồn, và lúc này chính cái nhìn nhân đạo của mình nhà văn đã cảm thấu nhân vật và"khơi những nguồn chưa ai khơi" trong chính những nhân vật ấy.
Đối với một nhà văn chân chính trước hết phải là "phát hiện cái đẹp chính ở chỗ không ai ngờ tới". Người đón nhận tác phẩm chẳng thể ngờ tới cái đẹp là vì nó tồn tại trong một hoàn cảnh đặc biệt, bên trong cái vật chất thô thiển, dơ bẩn nhưng lại chứa đựng những điều đáng quý. Bối cảnh không nói lên được tất cả những gì ẩn giấu bên trong con người. Ở cái xã hội phong kiến tàn bạo thối nát, Chí Phèo bị sinh ra không cha, không mẹ, không người thân, ban đầu chí làm công cho gia đình nhà Bá Kiến. Họ là những ông chủ bà chủ chỉ thích được người khác thỏa mãn nhục dục bản thân, nhưng với anh canh điền hiền lành chất phát như Chí, bị bà ba gọi lên bóp chân là nỗi "nhục hơn chứ yêu đương gì". Anh là người có lòng tự trọng, người thanh niên lương thiện ấy rất có ý thức về danh dự. Trước cái tình thế không ai chấp nhận mình, khi bản thân bị tha hóa, trở thành cái thằng rạch mặt ăn vạ của làng Vũ Đại, chí vẫn mong ai đó thông cảm cho mình, vì đâu mà Chí ra nông nỗi này, anh uống rượu để lấy can đảm cho bản thân, để quên đi cái bộ mặt xã hội không chỗ dung thân cho mình. Chí chửi cũng chỉ mong được sự đồng cảm. Dù là con quỹ dữ thì Chí Phèo cũng có cảm xúc của một con người, anh cũng biết yêu, tình yêu ấy không dài nhưng cũng thật đẹp và đặc biệt nó xảy đến với anh lúc này. Nở đến và mang bát cháo hành của tình yêu thương, sự giao cảm giữa hai con người gần như chỉ mới gặp gỡ. Cái đẹp đó có ai ngờ lại xảy ra lúc này. Tình yêu vốn có sức cảm hóa phi thường ngay cả đối với những kẻ lưu manh cố cùng nhất như chí Phèo. Tình yêu nãy nở giữa hai con người chẳng tin vào đâu được giữa căn chòi nhỏ, họ cảm nhận tình yêu đơn giản dành cho nhau. Điều đó phải chăng đã lột tả được hết những cái đẹp bât ngờ mà nhà văn đã lồng ghép vào tác phẩm? Chắc có lẽ phần nào đã cho thấy Nam Cao là nhà văn có ngồi bút lạnh lùng nhưng vẫn thấm đẫm chút vị nhân sinh. Tác phẩm của nhà văn là những tấn bi kịch về cuộc đời, nhưng nếu cảm nhận sâu sắc ta sẽ thấy nó lại xen lẫn đôi chỗ những nét đẹp ẩn hiện đầy nhân văn. Là nhà văn phải không chỉ cảm xúc thôi là đủ mà còn phải quan sát tinh tế để khám phá ra những hạt ngọc ẩn dấu bên trong tâm hồn hay, viên ngọc sáng long lanh nằm trong vách đá. Đã là nghệ thuật thì càng phải tôn vinh cái đẹp, đặc biệt là nằm ở con người.
Nhưng làm gì có cái đẹp nào lại phô trương ra bên ngoài, bởi nó không còn đẹp, hấp dẫn và bí ẩn với nhà văn, mà nó phải "kính đáo" và bị sự "che lấp của sự vật". Không ai có được một định nghĩa hoàn toàn về cái đẹp. Nhưng ở con người cái đáng trân trọng nhất chính là vẻ đẹp tâm hồn, hay một vẻ đẹp đã ẩn sâu bên trong cái tấm lòng nhân hậu, vẻ đẹp ấy không thường xuyên bộc lộ ra mà nó chỉ xuất hiện ở những hoàn cảnh thích hợp nhất. Nhưng không phải bỗng dưng nó lại đến với nhà văn một cách bất chợt mà phải "tìm" và có lẽ Nam Cao đã dùng hết cuộc đời văn chương của mình để đi tìm cái đẹp, dù chỉ nhỏ nhoi trong những câu chuyện mà Nam Cao kể. Đó là Lão Hạc, người nông dân thầm lặng ngậm đắng nuốt cay đau đớn vì không có tiền cưới vợ cho con, nhưng lại là một người giàu lòng nhân hậu, ông đau đớn vì ông thương con trai và xót xa cho hoàn cảnh của mình. Ông là người có lòng tự trọng lớn, khi không nhận bất kì sự giúp đỡ của ai chỉ là lão đi mò trai bắt ốc, kiếm củ khoai củ ráy ăn qua ngày. Đó chính là lòng tự trọng của một ông lão đã chừng ấy tuổi. Đọc tác phẩm "Lão Hạc" mà nơi đâu cũng đau đáu buồn, những lời độc thoại nội tâm rồi những lời lão nói với ông Giáo. Tất cả để thấy lão Hạc cũng thật đáng thương mà cũng thật đáng để trân trọng. Lão Hạc! Ôi! cái con người giàu lòng lương thiện, thương yêu con, yêu cả con vật, lão đã đau đớn "thì ra tôi già bằng tuổi này mà còn đi lừa một con chó". Nếu không có cả một trái tim đầy lòng bao dung, trắc ẩn, thì sao lão Hạc có thể sống đẹp như thế. Trái tim của lão đã đầy chai sạn nhưng sao cũng chứa chan tình người, không bao giờ lão Hạc sống cho mình, mà ông sống vì con và vì tất cả.
M. Gorki từng nói: "Văn học là nhân học" văn học cũng giáo dục con người về cái đẹp, không chỉ là cái đẹp về hình thức mà còn nằm thiên về tình cảm, những thứ tình cảm dung dị mộc mạc mà mà cha mẹ dành cho con cái và có đôi khi tình cảm ấy lại cuộn trào lên dữ dội. Nguyễn Minh Châu cũng người rất hay đi tìm cái đẹp, ông tìm cái vẻ đẹp cao cả của người đàn bà làng chày, chịu đựng mọi sự vất vả vì con, cả những cảnh bạo lực từ người chồng. Niềm hạnh phúc của chị là nhìn con ăn no. Vì thế cuộc sống chứa đựng những góc khuất mà ta chưa thể vươn tới được. Nhưng thông qua những tác phẩm văn học nó lại bật ra đầy bất ngờ và tinh tế. Còn ở Nam Cao ngay cả đề tài người tri thức nghèo nhà văn cũng miêu tả một cách trọn vẹn về tấm lòng cao cả của một người đàn ông như Hộ. Anh đã bỏ qua tất cả những định kiến của xã hội chấp nhận một người phụ nữ đã qua một chuyến đò như Từ. Anh đã hi sinh sự nghiệp vì vợ và những đứa con của mình. Một người đàn ông tuyệt vời đến đáng ghen tị. Là một nhà văn Hộ mong muốn viết được cho mình tác phẩm mà "ăn giải Nobel và dịch ra mọi thứ tiếng trên toàn cầu" một tác phẩm mà "phải thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì đó lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi.Nó làm cho người gần người hơn". Ước mơ tuổi trẻ ấy là của Hộ, một nhà văn điển hình với tâm hồn phong phú. Hộ khi còn trẻ là Hộ của những nhiệt huyết đam mê luôn ngầm cháy trong người. Nam Cao đã dùng lăng kính soi rọi tâm hồn Hộ, khát khao được viết một tác phẩm thật giá trị cũng ngày một lớn dần trong anh như lăng kính càng soi rõ nét. Những nét đẹp trong nhân vật của Nam Cao thật phong phú. Nó làm cho lòng người đọc trở nên rạo rực. Bởi niềm tin vì cái đẹp vẫn tồn tại, dẫu rằng nó bị che lấp bởi cái bề ngoài xấu xí. Xấu như Thị Nở, dẫu rằng nó ẩn náu sau cái vẻ cọc cằn thường ngày của Hộ, cái vẻ mặt rầu rĩ của lão Hạc thì cái đẹp của lòng người vẫn tỏa sáng trên từng trang văn. Nhà văn đã trau truốt cái đẹp theo đúng cái khuôn mẫu của con người hiện thực. Ông không cố tô hồng cái đẹp, mà nó bọc phát một cách tự nhiên. Đôi lúc làm người đọc đi qua từng bất ngờ, đột khởi.
Từ đó Nam Cao đã cho thấy cách nhìn của mình về cuộc sống, con người gắn kết với cái đẹp. Đó là một kinh nghiệm được đúc kết qua từng tác phẩm. Đối với nhà văn cái đẹp của con người được hiện lên đậm sắc nhất ấy là khi họ được sống trong cái hoàn cảnh khắc nghiệt, buộc con người phải vùng lên đấu tranh. Để có người thì tha hóa, khát khao được sống mà cũng chẳng xong, có người bề ngoài thô kệt mà đầy nhân hậu, có người ước mơ thực đẹp và thật cao cả. Nhưng quy về cái chung họ vẫn là những người đồng cảnh ngộ, bởi vì cái nghèo. Cách mà chúng ta "trông nhìn" cái đẹp cũng rất quan trọng. Thoạt nhiên nếu đánh giá Thị Nở xấu, bởi cô ấy mang vẻ "xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng" thì lại là một đánh giá sai. Bởi con người cũng nằm trong vòng lẫn quẫn, không ai xấu tất cả, Thị Nở tuy xấu bề ngoài nhưng trong dạ lại tốt. Bằng chứng là hành động Nở mang tô cháo hành đến cho Chí Phèo, bởi với thị đó là một niềm thương cảm đặc biệt. Phải có một cái nhìn đúng về cái đẹp đôi lúc nó là: lòng tự trọng, nhân phẩm, danh dự....mà con người có được. Hiểu ra được cội nguồn của cái đẹp, ý nghĩa của nó thì ta mới có thể "thưởng thức" trọn vẹn. Chúng ta nên thoải mái để đón nhận cái những điều tuyệt vời mà cuộc sống mang lại. Thông qua những tác phẩm Nam Cao phần nào ta thấy được cái đẹp ẩn dấu của những con người trong bối cảnh khốn khó của Việt Nam trước năm 1945, để đồng thời thấy được quan niệm của nhà văn Thạch Lam quả thật không sai.
Trong cái thời đại người ta chạy theo lối sống thoát li thì những nhà văn như Thạch Lam hay Nam Cao lại xem văn học như "một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà ta có để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn". Văn học không phải là hai chữ biểu tượng và trống rỗng mà văn học là một thế giới đầy tính hiện thực sâu sắc. Thế nên đã trải qua biết bao nhiêu đọc giả đương đại Nam Cao vẫn thu hút người đọc bởi cái nhìn tinh tế, khắc chạm những tinh hoa phong phú cho lòng người. Những tác phẩm của Nam Cao hội tụ đầy đủ các yếu tố trong quan niệm của Thạch Lam. Tuy là hai ngòi bút, với cách nhìn cuộc sống khác nhau, nhưng họ lại có điểm nhìn chung trong văn chương. Đấy là việc khám phá cái đẹp, khám phá cái đẹp bên trong chứ không phải cái đẹp bên ngoài dễ lỗi thời và thường hay phô trương. Còn viên ngọc sáng bên trong là những điều có thể là bản năng, có thể phát sáng trong một giai đoạn đặc biệt. Đó có lẽ là những gì mà nhà văn muốn người đọc hiểu được và tìm đến những tác phẩm có giá trị.
"Văn chương có loại đáng thờ, có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người." (Nguyễn Văn Siêu). Quả là vậy, văn chương thật sự giá trị khi nói về con người, về những điều tiềm ẩn. Thạch Lam là một nhà văn chân chính, bởi ông luôn là nhịp cầu gắn kết văn chương với con người. Những quan niệm của ông luôn mới mẻ, và hiếm gặp trong giai đoạn lúc bấy giờ. Nhưng khi đọc qua những sáng tác của Nam Cao - tài năng phản ánh hiện thực bậc thầy, một lần nữa phải càng khâm phục hơn tài của hai cây bút luôn cống hiến hết mình cho văn chương. Họ là những người đi tìm cái đẹp chân chính, mang lại cho độc giả những điều bất ngờ. Và rồi những giá trị tự biết khẳng định, không để quy luật sinh tồn đào thải. Bằng khám phá của mình, nhà văn Nam Cao đã để lại cho nền văn học nước nhà những án văn hay.
Nhưng làm gì có cái đẹp nào lại phô trương ra bên ngoài, bởi nó không còn đẹp, hấp dẫn và bí ẩn với nhà văn, mà nó phải "kính đáo" và bị sự "che lấp của sự vật". Không ai có được một định nghĩa hoàn toàn về cái đẹp. Nhưng ở con người cái đáng trân trọng nhất chính là vẻ đẹp tâm hồn, hay một vẻ đẹp đã ẩn sâu bên trong cái tấm lòng nhân hậu, vẻ đẹp ấy không thường xuyên bộc lộ ra mà nó chỉ xuất hiện ở những hoàn cảnh thích hợp nhất. Nhưng không phải bỗng dưng nó lại đến với nhà văn một cách bất chợt mà phải "tìm" và có lẽ Nam Cao đã dùng hết cuộc đời văn chương của mình để đi tìm cái đẹp, dù chỉ nhỏ nhoi trong những câu chuyện mà Nam Cao kể. Đó là Lão Hạc, người nông dân thầm lặng ngậm đắng nuốt cay đau đớn vì không có tiền cưới vợ cho con, nhưng lại là một người giàu lòng nhân hậu, ông đau đớn vì ông thương con trai và xót xa cho hoàn cảnh của mình. Ông là người có lòng tự trọng lớn, khi không nhận bất kì sự giúp đỡ của ai chỉ là lão đi mò trai bắt ốc, kiếm củ khoai củ ráy ăn qua ngày. Đó chính là lòng tự trọng của một ông lão đã chừng ấy tuổi. Đọc tác phẩm "Lão Hạc" mà nơi đâu cũng đau đáu buồn, những lời độc thoại nội tâm rồi những lời lão nói với ông Giáo. Tất cả để thấy lão Hạc cũng thật đáng thương mà cũng thật đáng để trân trọng. Lão Hạc! Ôi! cái con người giàu lòng lương thiện, thương yêu con, yêu cả con vật, lão đã đau đớn "thì ra tôi già bằng tuổi này mà còn đi lừa một con chó". Nếu không có cả một trái tim đầy lòng bao dung, trắc ẩn, thì sao lão Hạc có thể sống đẹp như thế. Trái tim của lão đã đầy chai sạn nhưng sao cũng chứa chan tình người, không bao giờ lão Hạc sống cho mình, mà ông sống vì con và vì tất cả.
M. Gorki từng nói: "Văn học là nhân học" văn học cũng giáo dục con người về cái đẹp, không chỉ là cái đẹp về hình thức mà còn nằm thiên về tình cảm, những thứ tình cảm dung dị mộc mạc mà mà cha mẹ dành cho con cái và có đôi khi tình cảm ấy lại cuộn trào lên dữ dội. Nguyễn Minh Châu cũng người rất hay đi tìm cái đẹp, ông tìm cái vẻ đẹp cao cả của người đàn bà làng chày, chịu đựng mọi sự vất vả vì con, cả những cảnh bạo lực từ người chồng. Niềm hạnh phúc của chị là nhìn con ăn no. Vì thế cuộc sống chứa đựng những góc khuất mà ta chưa thể vươn tới được. Nhưng thông qua những tác phẩm văn học nó lại bật ra đầy bất ngờ và tinh tế. Còn ở Nam Cao ngay cả đề tài người tri thức nghèo nhà văn cũng miêu tả một cách trọn vẹn về tấm lòng cao cả của một người đàn ông như Hộ. Anh đã bỏ qua tất cả những định kiến của xã hội chấp nhận một người phụ nữ đã qua một chuyến đò như Từ. Anh đã hi sinh sự nghiệp vì vợ và những đứa con của mình. Một người đàn ông tuyệt vời đến đáng ghen tị. Là một nhà văn Hộ mong muốn viết được cho mình tác phẩm mà "ăn giải Nobel và dịch ra mọi thứ tiếng trên toàn cầu" một tác phẩm mà "phải thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì đó lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi.Nó làm cho người gần người hơn". Ước mơ tuổi trẻ ấy là của Hộ, một nhà văn điển hình với tâm hồn phong phú. Hộ khi còn trẻ là Hộ của những nhiệt huyết đam mê luôn ngầm cháy trong người. Nam Cao đã dùng lăng kính soi rọi tâm hồn Hộ, khát khao được viết một tác phẩm thật giá trị cũng ngày một lớn dần trong anh như lăng kính càng soi rõ nét. Những nét đẹp trong nhân vật của Nam Cao thật phong phú. Nó làm cho lòng người đọc trở nên rạo rực. Bởi niềm tin vì cái đẹp vẫn tồn tại, dẫu rằng nó bị che lấp bởi cái bề ngoài xấu xí. Xấu như Thị Nở, dẫu rằng nó ẩn náu sau cái vẻ cọc cằn thường ngày của Hộ, cái vẻ mặt rầu rĩ của lão Hạc thì cái đẹp của lòng người vẫn tỏa sáng trên từng trang văn. Nhà văn đã trau truốt cái đẹp theo đúng cái khuôn mẫu của con người hiện thực. Ông không cố tô hồng cái đẹp, mà nó bọc phát một cách tự nhiên. Đôi lúc làm người đọc đi qua từng bất ngờ, đột khởi.
Từ đó Nam Cao đã cho thấy cách nhìn của mình về cuộc sống, con người gắn kết với cái đẹp. Đó là một kinh nghiệm được đúc kết qua từng tác phẩm. Đối với nhà văn cái đẹp của con người được hiện lên đậm sắc nhất ấy là khi họ được sống trong cái hoàn cảnh khắc nghiệt, buộc con người phải vùng lên đấu tranh. Để có người thì tha hóa, khát khao được sống mà cũng chẳng xong, có người bề ngoài thô kệt mà đầy nhân hậu, có người ước mơ thực đẹp và thật cao cả. Nhưng quy về cái chung họ vẫn là những người đồng cảnh ngộ, bởi vì cái nghèo. Cách mà chúng ta "trông nhìn" cái đẹp cũng rất quan trọng. Thoạt nhiên nếu đánh giá Thị Nở xấu, bởi cô ấy mang vẻ "xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng" thì lại là một đánh giá sai. Bởi con người cũng nằm trong vòng lẫn quẫn, không ai xấu tất cả, Thị Nở tuy xấu bề ngoài nhưng trong dạ lại tốt. Bằng chứng là hành động Nở mang tô cháo hành đến cho Chí Phèo, bởi với thị đó là một niềm thương cảm đặc biệt. Phải có một cái nhìn đúng về cái đẹp đôi lúc nó là: lòng tự trọng, nhân phẩm, danh dự....mà con người có được. Hiểu ra được cội nguồn của cái đẹp, ý nghĩa của nó thì ta mới có thể "thưởng thức" trọn vẹn. Chúng ta nên thoải mái để đón nhận cái những điều tuyệt vời mà cuộc sống mang lại. Thông qua những tác phẩm Nam Cao phần nào ta thấy được cái đẹp ẩn dấu của những con người trong bối cảnh khốn khó của Việt Nam trước năm 1945, để đồng thời thấy được quan niệm của nhà văn Thạch Lam quả thật không sai.
Trong cái thời đại người ta chạy theo lối sống thoát li thì những nhà văn như Thạch Lam hay Nam Cao lại xem văn học như "một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà ta có để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn". Văn học không phải là hai chữ biểu tượng và trống rỗng mà văn học là một thế giới đầy tính hiện thực sâu sắc. Thế nên đã trải qua biết bao nhiêu đọc giả đương đại Nam Cao vẫn thu hút người đọc bởi cái nhìn tinh tế, khắc chạm những tinh hoa phong phú cho lòng người. Những tác phẩm của Nam Cao hội tụ đầy đủ các yếu tố trong quan niệm của Thạch Lam. Tuy là hai ngòi bút, với cách nhìn cuộc sống khác nhau, nhưng họ lại có điểm nhìn chung trong văn chương. Đấy là việc khám phá cái đẹp, khám phá cái đẹp bên trong chứ không phải cái đẹp bên ngoài dễ lỗi thời và thường hay phô trương. Còn viên ngọc sáng bên trong là những điều có thể là bản năng, có thể phát sáng trong một giai đoạn đặc biệt. Đó có lẽ là những gì mà nhà văn muốn người đọc hiểu được và tìm đến những tác phẩm có giá trị.
"Văn chương có loại đáng thờ, có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người." (Nguyễn Văn Siêu). Quả là vậy, văn chương thật sự giá trị khi nói về con người, về những điều tiềm ẩn. Thạch Lam là một nhà văn chân chính, bởi ông luôn là nhịp cầu gắn kết văn chương với con người. Những quan niệm của ông luôn mới mẻ, và hiếm gặp trong giai đoạn lúc bấy giờ. Nhưng khi đọc qua những sáng tác của Nam Cao - tài năng phản ánh hiện thực bậc thầy, một lần nữa phải càng khâm phục hơn tài của hai cây bút luôn cống hiến hết mình cho văn chương. Họ là những người đi tìm cái đẹp chân chính, mang lại cho độc giả những điều bất ngờ. Và rồi những giá trị tự biết khẳng định, không để quy luật sinh tồn đào thải. Bằng khám phá của mình, nhà văn Nam Cao đã để lại cho nền văn học nước nhà những án văn hay.
blog rất hay và bổ ích
Trả lờiXóaTuyệt.Bài viết rất hay.
Trả lờiXóaTuyệt.Bài viết rất hay.
Trả lờiXóaBài viết của chị rất hay ạ!!!
Trả lờiXóaChị cho em mượn lời văn của chị trong kì thì sắp tới nha
Trả lờiXóa